Từ một bài thơ đến một lễ kỷ niệm
Rồi từ bài thơ này, Tỉnh ủy và UBND tỉnh Quảng Ninh cho phép hằng năm tổ chức Ngày thơ Quảng Ninh vào ngày 29/3, suy tôn thơ ca vì đất nước và dân tộc. Trong 2 ngày 28 và 29/3 vừa qua, tại Quảng Ninh đã diễn ra nhiều hoạt động văn hóa văn nghệ rất đặc sắc.
Trong khuôn khổ hoạt động của Ngày thơ Quảng Ninh lần thứ nhất, ngày 28/3/1988, Câu lạc bộ thơ Lê Thánh Tông và Giải thơ Lê Thánh Tông được Ủy ban chiến trận Tổ quốc tỉnh và Hội văn chương Nghệ thuật tỉnh Quảng Ninh thành lập. Ngày 28/3 vừa qua, chiến trận đất nước tỉnh Quảng Ninh đã tổ chức Lễ kỷ niệm 30 năm thành lập CLB thơ Lê Thánh Tông và trao Giải thơ Lê Thánh Tông lần thứ 30 rất thành công. Ngày 29/3/2018, tại Khu Văn hóa núi Bài Thơ (khánh thành và đưa vào dùng từ năm 2015, nhân kỷ niệm 50 năm thành lập tỉnh Quảng Ninh), trong đó có điện thờ vua Lê Thánh Tông, tỉnh Quảng Ninh đã tổ chức Lễ kỷ niệm 550 năm bài thơ của vua Lê Thánh Tông được khắc lên vách đá núi Truyền Đăng. Phó chủ toạ UBND tỉnh Vũ Thị Thu Thủy đã đọc diễn văn, ghi nhận công đức của vua Lê Thánh Tông và khẳng định giá trị trường tồn của bài thơ trong đời sống cộng đồng và ảnh hưởng sâu sắc của nó trong đời sống tinh thần của quần chúng Quảng Ninh hiện thời. Trong dịp này, UBND tỉnh Quảng Ninh đã vinh danh và tặng hoa các nhà văn, thi sĩ được tặng Giải thưởng quốc gia về văn chương Nghệ thuật và các cháu học sinh giỏi, đoạt giải trong các kỳ thi quốc gia trong những năm qua.
Bài thơ của vua Lê Thánh Tông toàn văn như sau (chép từ Thơ chữ Hán Lê Thánh Tông , Tổng tập, của Viện Nghiên cứu Hán Nôm, do Mai Xuân Hải chủ biên, NXB Văn học, 2003).
Đồng chí Đỗ Thị Hoàng, Phó bí thơ túc trực Tỉnh ủy Quảng Ninh tặng hoa nhà thơ Trần Nhuận Minh, Giải thưởng Nhà nước đợt 2 năm 2007 và nhà văn Dương Hướng, Giải thưởng quốc gia đợt 4 năm 2017. (Hai nhà văn quá cố được truy tặng là Võ Huy Tâm đợt 1 năm 2001 và Lý Biên Cương đợt 3 năm 2012).
NGỰ CHẾ THIÊN NAM ĐỘNG CHỦ ĐỀ
Quang Thuận cửu niên xuân nhị nguyệt, dư thân xuất lục quân, duyệt binh vu Bạch Đằng giang thượng. Thi nhật phong hòa cảnh lệ, hải bất dương ba, Hoàng Hải tuần An Bang, trú sư Truyền Đăng sơn hạ, ma thạch đề thi nhất luật: “Cự tẩm uông dương triều bách xuyên/ Loạn sơn kỳ bố bích liên thiên/ Tráng tâm sơ cảm Hàm tam cổ/ Tín thủ dao đề Tốn nhị quyền/ Thần Bắc khu cơ sâm hổ lữ/ Hải Đông phong toại tức lang yên/ Thiên Nam vạn cổ hà sơn tại/ Chính thị tu văn yển vũ niên”. Thiên Nam động chủ đề
Dịch nghĩa: Tháng 2 mùa xuân năm Quang Thuận thứ 9 (1468), ta thân chỉ huy sáu quân, duyệt võ trên sông Bạch Đằng. Hôm ấy, gió hòa cảnh đẹp, biển không nổi sóng, ta vượt qua Hoàng Hải, đi tuần An Bang, đóng quân dưới núi Truyền Đăng, bèn mài đá đề một bài thơ:
Nước lớn bao la, trăm sông chầu vào/ Núi non nhan nhản, tản mác như quân cờ, vách đá liền trời/ Có tráng trí, nhưng lúc mới dựng nghiệp vẫn theo người, như quẻ Hàm hào cửu tam (đã định)/ Nay một tay thả giàn vùng vẫy, uy quyền như thần gió (tốn nhị quyền)/ Các đơn vị quân đội (lữ), sức mạnh như hổ, đã xúm xít quanh đức vua (Thần Bắc - sao Bắc Đẩu - chỉ nhà vua)/ Vùng trời biển Hải Đông đã tắt ngọn khói có phân chó sói (lang) báo hiệu có chiến tranh/ muôn đời trời Nam, núi sông bền vững/ hiện thời chính là lúc giảm bớt việc võ, tu chỉnh việc văn (để xây dựng sơn hà trong thời bình).
Dịch thơ: “Nhận nước trăm sông sóng cuộn đầy/ Núi bày cờ thế, biếc liền mây/ Xưa theo người khác luôn bền chí/ Giờ đã vẫy vùng một chớp tay/ Đế Chủ chập chồng quân hổ mạnh/ Hải Đông đã tắt khói lang bay/ Trời Nam Muôn thuở non nước vững/ Yển vũ tu văn dựng nước này! ”
Trên đây là bản dịch của tôi. Từ năm 1988, bản dịch này đã được phổ nhạc hát trong các ngày hội thơ, nhiều năm đã được Ban quản lý di tích viết trên bảng gỗ chữ sơn cắm bên cạnh bài thơ để khách thăm và các bậc cao minh cho quan điểm, sau được nhà Hán Nôm học Mai Xuân Hải ghi nhận, Viện Nghiên cứu Hán Nôm nghiệm thu, in trong Tuyển tập thơ chữ Hán Lê Thánh Tông, đến nay tập tuyển đã được tái bản nhiều lần.
trước tiên về văn bản, bài thơ các bạn có ở trên là văn bản được coi là chuẩn, bởi được chép ra từ núi Bài Thơ. Nhiều chữ trên vách đá không còn đọc được bằng mắt thường, nhưng bản dập bằng các biện pháp khoa học thì vẫn còn đọc được và những chữ quá mờ vẫn còn đoán ra được. Căn cứ vào bản dập này thì văn bản bài thơ chép trong Toàn Việt thi lục của nhà bác học Lê Quý Đôn, vốn được coi là chuẩn mực, vẫn sai đến 6 chữ, trong đó có những chữ khôn xiết quan trọng, như vua Lê xưng Ta rất thân tình thì Lê Quý Đôn lại chép là Trẫm ... Trong nguyên tác, bài thơ không có nhan đề, vì vậy mỗi bản in có một đầu đề khác nhau là điều dễ hiểu, còn tác giả thì đề là Thiên Nam động chủ. Thiên Nam động chủ là hiệu và bút danh của vua Lê Thánh Tông.
Bia đá tóm tắt lịch sử trên đỉnh núi Bài Thơ.
Điều quan trọng nhất là câu thơ thứ 3 và 4, nên hiểu như thế nào, đặc biệt là các chữ Hàm tam cổ và Tốn nhị quyền, gây ra nhiều bàn cãi. Ngay cả nhà văn hóa lớn Hoàng Xuân Hãn và nhà Hán Nôm học lão thành Nguyễn Duyên Niên cũng có những kiến giải khác nhau về mấy chữ này, mà về sau, các nhà Hán Nôm học khác không nhấn. Trong Hội thảo khoa học về Cụm di tích núi Bài Thơ, với sự tham gia của nhiều chuyên gia đầu ngành của Viện văn chương, Viện Sử học, Viện Hán Nôm, mà tôi còn nhớ có các vị cốt lõi như: Phan Huy Lê, Hà Văn Tấn, Đinh Xuân Lâm, Trần Quốc Vượng, Nguyễn Huệ Chi,... các chuyên gia thân thuộc như Trần Thị Băng Thanh, Đặng Văn Bài, Lại Văn Hùng,... thì Hàm tam cổ được hợp nhất hiểu là hào tam (3) quẻ Hàm của Kinh Dịch. nghĩa là lúc sức còn yếu thì phải theo người khác, nhưng vẫn luôn giữ vững ý chí của mình. Cũng theo mạch tư duy của Kinh Dịch, có người hiểu Tốn nhị quyền là hào nhị (2) quẻ Tốn, nhưng lại không phải. Nội dung hào 2 quẻ Tốn hoàn toàn xa lạ với ý thơ trong bài. Tốn Nhị còn có tức thị “hai luồng gió chồng lên nhau, nghĩa là theo gió. Theo và chồng là khoảng đều thuận”. Đó là lời giải của Trình Di về quẻ Thuần Tốn trong Kinh Dịch. Như vậy Tốn Nhị là Thần Gió, có sức mạnh ghê gớm, tung hoành trong trời đất ơi, gây ra sấm sét mưa bão. Cách hiểu khác nhau dẫn đến cách dịch khác nhau đều khởi hành từ hai câu thơ rất uyên thâm và hiểm hóc này. Tôi nghĩ, đây là thực trạng của nhà vua, trong quá trình củng cố quyền lực, từ lúc ban đầu phải theo người khác để giữ yên tình thế, đến lúc khoảng đều thuận, nên mình mới có thể thẳng cánh hành động lớn, để làm những đại sự cho quốc gia. Hai chữ Thần Bắc và Hải Đông trong cặp đối rất chuẩn của câu luận cũng rất khó dịch cho chuẩn về âm tiết và ngữ nghĩa. Thần Bắc là sao Bắc Đẩu, chỉ bậc Đế Chủ là nhà vua. Hải Đông thì uyên bác đến như cụ Nguyễn Hữu Tiến, cụ Nguyễn Duyên Niên, còn hiểu là biển Đông. giờ thì ta thấy rõ cách hiểu này là không có sức thuyết phục, vì không ai đốt củi ở biển Đông cả. Hải Đông chính là tên một vùng đất rộng lớn ở trời Trần, Lê, trong đó có tỉnh Quảng Ninh và một phần TP. Hải Phòng và tỉnh Hải Dương hiện, ở đây có trạm báo hiệu - truyền tin - về kinh đô Thăng Long, chính là núi Truyền Đăng mà vua Lê đề thơ. Ngày xưa khi biên thuỳ có giặc, người lính biên phòng đốt trên ngọn quả núi này, những cây gỗ khô thi bằng lái xe máy có phân chó sói, khói xám bốc thẳng lên trời cao, để kinh kì Thăng Long biết là giặc đã tràn vào biên cương. Hải Đông đã tắt khói lang bay là đã tắt ngọn lửa hiệu báo có chiến tranh xâm lăng. Hai câu kết, thì Yển vũ tu văn là một thành ngữ, chỉ chiến lược của nhà cầm quyền ở thời bình, trong việc cân đối hài hòa giữa việc phát triển kinh tế, văn hóa, bang giao, giáo dục, y tế,... (đều gọi tắt là văn) với việc xây dựng lực lượng quân sự (vũ) thế nào cho hợp lý, đủ để bảo vệ Tổ quốc mà không quá đà... Do đó, dịch là tăng văn giảm võ xem ra không ổn, hoặc giảm binh nhưng cũng không lột hết được cái ẩn ý của chiến lược quân sự thời bình của nhà vua, nên tôi nghĩ, tốt nhất là nên giữ nguyên thành ngữ đó, không dịch. Chính thị là chính lúc này, chỉ thời gian, vậy chữ niên không nên hiểu là năm tức là thời kì, mà hiểu theo nghĩa thứ 2 của chữ này, là được mùa, là làm được cái việc ấy (theo Từ điển).
Đây là lối dịch thoát theo ý tưởng của cả bài thơ mà tôi nghĩ là đúng với chủ ý của tác giả. Chính vì lẽ đó, Hội thảo khoa học 1992 công nhận: “Bài thơ là một bản tuyên ngôn độc lập về kiêm toàn của chủ quyền bờ cõi của quốc gia Đại Việt, đồng thời là ý chí kiên tâm xây dựng một tổ quốc hòa bình, hưng vượng và vững bền ở thời Lê” (dẫn theo tập sách Kỷ yếu hội thảo đã xuất bản).
Kết luận hội thảo, Đoàn Chủ tịch ghi nhận và rất hoan nghênh sáng kiến đề xuất Ngày thơ Quảng Ninh. Tròn 15 năm sau, ngày 11/1/2003, nhà thơ Hữu Thỉnh, chủ toạ Hội Nhà văn Việt Nam, tại Đại hội toàn thể lần thứ VIII Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Ninh đã phát biểu trong tiếng vỗ tay rất lâu, vang dội cả Nhà văn hóa Việt Nhật: Thay mặt Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam, tôi xin trân trọng thông tin với các đồng chí lãnh đạo tỉnh và các bạn văn nghệ sĩ, dự Đại hội toàn thể Hội văn chương Nghệ thuật lần thứ VIII, của tỉnh Quảng Ninh, rằng: thực từ tế tổ chức và những kinh nghiệm của Ngày thơ Quảng Ninh, Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam, trong phiên họp toàn thể ngày 26/12 vừa qua đã quyết định lấy ngày Rằm tháng Giêng âm lịch hằng năm, ngày được ghi trong bài Nguyên tiêu của chủ toạ Hồ Chí Minh làm Ngày thơ Việt Nam” (dẫn theo báo Hạ Long số chào mừng thành công của đại hội, sau đó đưa tin trên báo Quảng Ninh và báo Tiền Phong).
Đấy cũng là một trong những lý do, để từ một bài thơ dẫn đến một lễ kỷ niệm trang trọng, và để lưu giữ bài thơ khỏi bị tự nhiên xâm hại thêm. Một ngôi nhà thờ khang trang đã được dựng lên, khánh thành ngày 29/3 mới rồi để khách thăm thẳng tính ghé qua. Năm 2015, Liên hoan thơ châu Á- yên bình Dương đã lấy nơi này làm một điểm tập hợp với sự có mặt của nhiều nhà thơ quan yếu của nhiều quốc gia.
Vua Lê Thánh Tông viết bài thơ này năm ông 26 tuổi, sau 8 năm ở ngôi vua cho thấy bản lĩnh lớn, tầm chiến lược xa rộng và tầm văn hóa rất cao, tả sức mạnh vượt trội của một Nhà nước đang phát triển trong hòa bình.
thi sĩ TRẦN NHUẬN MINH
0 nhận xét:
Đăng nhận xét